Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Bố của con ơi, bố là ai?


Tìm lại họ hàng của Bố Xi Vi Lay Vông Sắc
(nguyên quán: Mường Sàng, Sầm Nưa, Lào)

Ba tôi là Thảo Xi Vy Lay Vông Sắc
Sinh năm 1929
Dân tộc Lào Lum
Nguyên quán tại Mường Sàng – Tỉnh Sầm Nưa – Lào
Tham gia quân tình nguyện Fa thét Lào năm 1946 thuộc Đại đội 11 quân khu Xiêng Khoảng, Ba tôi đã công tác liên tục trong bộ đội Lào với số thời gian là 32 năm 8 tháng. Năm 1979 về nhập quốc tịch Việt Nam thuộc Đoàn 581 – Quân khu III
Có mẹ là Nàng (Làn) Thệ Phim
Em trai Bun xu (thoong) vắt – bộ đội Lào
Em gái Xu vắt bun hương trước công tác tại tỉnh hội phụ nữ tỉnh Xiêng Khoảng đã nghỉ hưu.
Trên đây là một số thông tin mà khi còn sống ba tôi yêu cầu ghi chép lại
Ba tôi mất năm 1997 do vết thương cũ tái phát tại Viện Quân Y 103, nay tôi với mong mỏi tìm lại gia đình và thân thế của Ba mình.
Với ước nguyện của 1 người con mong muốn được tìm hiểu về Ba mình, tôi rất hy vọng nhận được sự tư vấn & giúp đỡ của mọi người.
Mọi chi tiết xin liên hệ
Hồ Hữu Nghị - Số nhà 2/62 Ngọc Hà, Hà Nội
Tel: 097 738 7289
Trên đây là bức ảnh duy nhất còn sót lại chụp hồi Ba tôi sang Liên Xô công tác năm 1960

Cô Xu vắt bun hương trước công tác tại tỉnh hội phụ nữ tỉnh Xiêng Khoảng đã nghỉ hưu. (đây là ký ức của Ba tôi được Mẹ tôi ghi lại năm 1988)
Sau khi bị thương tại Cánh Đồng Chum, Mường Sải, Xiêng Khoảng. Ba tôi có được chuyển đi điều trị tại nhiều quân y viện. Năm 1960 ông được đưa sang Liên Xô đó là khoảng thời gian Ba tôi có vẽ chân dung bức ảnh trên. Sau 1 khoảng thời gian cụ thể là năm 1978 Ba tôi bị mất trí nhớ lưu lạc về VN và nhập quốc tịch VN từ ngày đó.

Quế Phong quê em nơi ngọn nguồn sông Hiếu...


 “Quế Phong quê em nơi ngọn nguồn sông Hiếu, Quế Phong quê em đẹp nghĩa đẹp tình”. Lời bài hát nghe sao thân thương biết mấy
Tôi người con nơi Đồng Bằng Sông Hồng, bén duyên cô gái Nghệ An về Bản Bon – 1 bản còn khá nhiều hộ nghèo đói, tuy ít có thời gian về thăm quê Vợ. Nhưng với tôi mảnh đất này con người nơi đây luôn thật gần gũi
Đã 6 năm có may mắn làm rể người Thái nhưng đến giờ tôi vẫn chưa thể học được ngôn ngữ để có thể giao tiếp cùng mọi người. Tuy nhiên chính những hành động, cử chỉ đã giúp tôi hiểu và càng thấy yêu quý hơn. Nhưng cũng không khỏi chạnh lòng thấy trình độ dân trí nơi đây sao còn thấp quá. Quế Phong có quá nhiều sự phân cấp trong cuộc sống, tại Kim Sơn tôi cảm nhận được sự xô bồ, ăn chơi và thực dụng. Nhưng ở Tiền Phong, Quang Phong, Nậm Giải tôi lại thấy được sự thật thà và ngờ nghệch rất con người.
“Quế Phong có con sông Nậm Quàng, con sông mang vẻ đẹp thơ mộng, dòng nước trong xanh lững lờ chảy qua vùng Quang Phong, Cắm Muộn (Cắm Muộn cũ) “Cắm Muộn” tiếng Thái có nghĩa là tiếng nói hay quý như vàng “một lời nói một gói vàng”, chỉ cư dân ở đây ăn nói lời hay ý đẹp. Nậm Quàng, là con sông Bạc chảy giữa vùng đất Vàng Quang Phong và Cắm Muộn, rồi xuôi về dòng sông Hiếu. Dưới lòng đất vùng Quang Phong, Cắm Muộn có một trữ lượng vàng khá lớn. Nhưng dân chúng nơi đây lại không được cái “lộc” từ đất. Quyền lợi nằm trong tay một số chủ vàng nơi khác đến thông đồng cùng một số con “bọ” khiến quanh đây chỉ còn lại những hố đào dang dở, nhiều gia đình con cái sa vào nghiện ngập tù tội. Các băng nhóm xã hội cũng được dịp bành trướng. Chính quyền đôi khi bất lực trước sự bát nháo ở các bãi đào vàng
Cận sông, cận suối cho phép bà con Quế Phong tạo nên hàng nghìn ao hồ nuôi cá, nuôi ba ba và các loài thuỷ sản khác, nhưng ôi thôi! Chủ thực sự của các trang trại là người từ Quỳ Châu lên chiếm lĩnh
Quế Phong luôn giàu đặc sản, cộng với lòng hiếu khách của bà con, đã để lại những ấn tượng khó phai với những ai đã một lần về thăm mảnh đất này.  Đến Quế Phong, mọi người sẽ được thưởng thức rượu cần, loại rượu làm bằng nếp cẩm còn ngây ngất hương gạo mới, cùng với cái ngọt dìu dịu của loại rượu được làm bằng men tự chế của bà con các dân tộc anh em, nó làm vơi đi cơn khát của lữ khách lúc trưa hè oi ả. Cùng với điệu lăm vông giàu bản sắc văn hoá vùng thượng nguồn là bài hát “ mời rượu cần”  bày tỏ sự chân tình và gợi cảm của các cô gái Thái.
Quế Phong có diên tích rừng tự nhiên khá lớn. Trong đó có hàng nghìn hec ta đất lâm nghiệp. Quế Phong là địa bàn được hưởng lợi từ các khu rựng nguyên sinh, đặc biệt là khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống. Những nơi này còn giữ được vẻ nguyên sơ của núi rừng. Hàng trăm hec ta rừng nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý nằm trong sách đỏ thế giới. Đó là pơ mu, sa mu, Lim, Lát hoa, đinh hương, xến, tấu, kim giao… cùng với nhiều lâm đặc sản, dược liệu quý hiếm như sa nhân, Hà thủ ô, nhân trần, sâm, câu y, mộc nhĩ, nấm hương… Không những thế, nơi đây còn bảo tồn được nhiều loài đông vật quý hiếm.
Là một huyện rẻo cao nơi thượng nguồn, địa hình rừng núi bị chia cắt cùng với nhiều núi đá vôi, lèn đá, tạo nên những hang động có vẻ đẹp nổi tiếng như Thẳm Mẹ Mọn, Thẩm Binh, Thẩm Nậm, Thẳm Chàng ở vùng Quang Phong, Cắm Muộn.
Cùng với những công cụ sản xuất thô sơ mà bà con còn lưu giữ, những cọn nước (guồng nước) ngày đêm miệt mài đổ nước lên những cánh đồng, những chiếc cối gạo nương dùng sức nước cần mẫn đem lại cho bà con những hạt gạo trắng ngần mà không mất sức xay giã. Những vật dụng cổ truyền này đang góp phần tạo nên một vẻ đẹp thơ mộng mang chút hoang sơ mà chỉ ở miền sơn cước mới có.
Huyện Quế Phong có bốn con thác lớn, đó là thác Tả Pấng, thác 9 tầng, thác Sao Va (Hạnh Dịch) và thác Hữu Văn (Hưu Văn). Vào những ngày hè oi nóng này, Quế Phong đang giữa mùa tắm thác, các dòng thác này ngày đêm ca hát, vang vọng những lời giao duyên… dòng thác tuôn xả như mái tóc trắng muốt của các nàng tiên nữ, buông dài như dải lụa, bồng bềnh giữa màu xanh của thượng nguồn. Một món quà tặng độc đáo của thiên nhiên, không phải nơi nào cũng có được. Thác Sao Va có cái hồ nước lớn nơi chân thác. Hồ nước này nhìn có vẻ hiền từ nhưng lại có độ sâu ít ai đo được. Theo bà con ở đây kể lại, hồ nước này có độ sâu hai mươi sải tay, tương đương với ba mươi mét. ở độ sâu ba mươi mét, với con người bình thường, không có thiết bị lặn hỗ trợ thì không thể xuống được tới đáy hồ. Vì vậy, dưới đáy hồ này như thế nào cũng chỉ là phỏng đoán của bà con ở đây. Bởi thực sự chưa có ai lặn xuống đến đáy hồ. Đến đây nhìn hồ nước, nếu thả dòng tư duy ngược thời gian về theo năm tháng, chúng ta sẽ thấy hồ nước này có nhiều điều thật khó hiểu.
Hàng năm, về mùa mưa lũ, nơi thượng nguồn sẽ có lũ lớn đổ về, cùng với độ dốc hai bên sườn núi sẽ làm cho đất đá lở xuống và tấp về hồ nước này không ít. và đã có đến hàng triệu trận lũ lớn chảy qua nơi hồ nước này trong hàng nghìn năm về trước. Nhưng số đá lớn đó xuống hồ rồi trôi đi đâu, về đâu? Mà hồ nước vẫn xanh trong thăm thẳm, đây thực sự là một điều bí hiểm. Hiện nay, hồ nước này ngày ngày vẫn cung cấp cho bà con một nguồn thức ăn không ít. Cá ở các khe suối nơi thượng nguồn của Quế Phong khá dồi dào, chỉ cần có biện pháp bảo vệ tốt thì trong vài ba năm là số lượng cá tăng lên đáng kể. Lúc ấy, nghề câu cá lại là một thú vui được nhiều người ưa chuộng.
Thác Sao Va một dòng thác mang nhiều câu chuyện huyền thoại và vẻ đẹp của nó cũng thật đắm say lòng người. Dòng thác cao nhưng không dữ dằn, thậm chí còn mềm mại như mái tóc của một cô gái ở tuổi trăng tròn.
Mùa hè du khách đến đây, được thả mình trong dòng suối mát, được ngắm thác Sao Va và ăn đặc sản núi rừng, nhím, lợn ri, mang, vịt bầu Cắm Muộn,  thịt gà đen Tri Lễ, lợn nít, cơm lam… thật lý tưởng cho những ai mang ý định ngược nguồn.
Quế Phong, nơi sơn cùng thuỷ tận về phía Tây Nghệ An. Nơi có núi non trùng điệp. Với những dãy Huồi Ho, Con Cặm nối sang dãy Pù Canh Quái có đỉnh Phả Cà Tủn cao gần 2.500 mét, bốn mùa mây phủ. Lắm thác nhiều ghềnh, cùng với những vực sâu thăm thẳm. Biết bao điều kỳ thú của thiên nhiên đã dệt nên nhiều truyền thuyết, nhiều câu chuyện huyền thoại. Và chính nơi mảnh đất thượng nguồn này cũng đã lưu giữ được nhiều câu chuyện mang đậm bản sắc văn hoá vùng miền. Câu chuyện đậm nét nhất và được tổ chức thành lễ hội hàng năm là câu chuyện về đền Chín gian. Một ngôi đền mang tính lịch sử của một tộc người, gắn với truyền thống chống giặc ngoại xâm của các bậc tiền bối nơi rừng thiêng núi thẳm này.
Ngôi đền chín gian nằm trên địa phận xã Châu Kim. Ngôi đền được chuyển dời về đây từ thế kỷ 18. Con số chín biểu thị cho chín Mường đoàn kết gắn bó bên nhau chống chọi với thiên nhiên, đánh giặc ngoại xâm bảo vệ một dải biên thuỳ rộng lớn nơi cửa ngõ miền Tây xứ Nghệ.
              Ngôi đền được chuyển dời về đây từ thế kỷ 18, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cùng với những năm tháng chiến tranh ác liệt, ngôi đền chỉ còn là dấu tích. Năm 2004, thể theo nguyện vọng của bà con các dân tộc nơi miền Tây xứ Nghệ. Ngôi đền được tôn tạo dựa trên khuôn mẫu của ngày xưa. Đền kiến trúc kiểu nhà sàn, sử dụng gỗ lim, đền có Chín gian đại diện cho chín mường. Đứng đầu là Mường Tôn, ngoài ra còn Mường Chón, Mường Quáng, Mường Hin, Mường Puộc, Mường Miễng, Mường Chứn và Mường Pắn, Mường Chòng. Tục của đền là hiến trâu. Vào ngày lễ hàng năm từ 13 đến 15 tháng hai âm lịch, mỗi Mường tế một con trâu. Trước khi làm lễ hiến tế, bà con phải mời thầy mo về làm đầy đủ thủ tục lễ nghi. Theo phong tục ngày trước, mỗi Mường thờ một con trâu, ngày nay, phần lễ vẫn được đảm bảo đúng nghi thức cổ truyền song thực hành việc tiết kiệm nên lễ hội chỉ tế có một con trâu chung cho cả chín Mường.
Đền Chín gian được kiến trúc theo phong tục truyền thống Thái cổ. Ngôi đền toạ lạc trên một vị trí thuận lợi. Lưng đền dựa vào dãy Pù Canh Quái, toàn bộ mặt tiền của đền là cánh đồng ruộng bao la, có con sông Nậm Giải uốn khúc chảy qua. Xa xa là dãy núi bao bọc, cùng với các bản làng sầm uất, bốn mùa no đủ.  Ngôi đền nằm trên ngọn đồi cạnh con đường quốc lộ 48, thuận tiện cho du khách bốn phương về vãn cảnh, xin lộc may mắn. Đền Chín gian mang đậm nét tâm linh nên không chỉ ngày lễ hội, mà hàng năm những ngày lễ, tết, mồng một, ngày rằm hàng tháng, nơi đây đón nhận không ít du khách thập phương về thăm.
Lễ hội đền chín gian được tổ chức tạo nên một phong trào uống nước nhớ nguồn, cũng là dịp để bà con ôn lại truyền thống cha ông khai đất lập mường, truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi. Lễ hội hàng năm được du khách về đây thắp nén hương cầu xin may mắn, cầu cho mưa thuận gió hoà. Ngoài ra lễ hội còn là dịp để trai thanh nữ tú gặp nhau. Lễ hội tạo được phong trào văn hóa văn nghệ trong nhân dân chín bản, mười mường đều tập luyền được các tiết mục hay….các trò chơi dân gian được khôi phục…tạo không khí phấn khởi tác động vào sản xuất…
 Quế phong là một huyện giàu tiềm năng về nguồn điện năng. Hiện tại, Quế Phong có năm nhà máy thuỷ điện đang xây dựng. Một ngày không xa, Quế Phong sẽ có hàng nghìn hec ta lòng hồ ngập nước, cân bằng độ nóng cho miền Tây, tạo nên một vùng khí hậu lý tưởng. Cùng với việc mở mang giao thông đi khắp mọi vùng, mở ra một mạng lưới giao thông thuỷ - bộ hài hoà. Bên cạnh đó là vẻ đẹp sẵn có của thiên nhiên ban tặng, cùng với bản sắc văn hoá từ lễ hội đền Chín gian, giúp Quế Phong trở thành điểm du lịch hấp dẫn nơi vùng thượng nguồn cho du khách thập phương.”– (nguồn tỉnh ủy nghệ an)
Hãy cùng chung tay đưa những người bản địa Quế Phong thoát khỏi cảnh nghèo đói, thiếu học. Tránh xa được thuốc phiện, mại dâm, các tệ nạn xã hội
Ai thực sự muốn thay đổi Quế Phong hãy chia sẽ và trình bày kế hoạch kinh doanh, ý tưởng và mọi suy nghĩ của mình.
Hãy cùng nhau nhìn về mảnh đất này, dưới con mắt một người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, tôi thấy nơi đây còn rất nhiều cơ hội cho các bạn trẻ có thể mang kiến thức của mình ứng dụng, cũng như có thể phát huy khả năng & sức trẻ để biến mảnh đất nghèo đói này không còn sự phân hóa và bất cập như hiện tại.

Tôi mơ



...mơ về 1 hạnh phúc không... bao giờ đến ...
...mơ về 1 ai đó...không bao giờ trở lại...
...mơ về những kỉ niệm...xa mãi!...
...mơ...về 1 tình yêu đã mãi mãi xa rồi...

Tôi tên là


Tôi là Nghị, tên đầy đủ Hồ Hữu Nghị
Cái tên chứa đựng bao ý nghĩa của Ba và Mẹ. Ba tôi người Việt nhưng lại mang quốc tịch Lào, ông lưu lạc sang Lào từ năm 3 tuổi, đến năm 50 tuổi mới tìm lại được về Việt Nam nhờ một chữ Duyên. Ông quen và lấy mẹ tôi cùng vì một chữ Duyên như thế, Mẹ tôi chọn cái tên này đặt cho con trai với ý nghĩa để chỉ tình cảm Hữu Nghị Việt Lào. Tôi là con thứ hai trong gia đình có ba chị em.
Cái tên đã theo tôi suốt cuộc đời, với bao “tếu danh” thời còn đi học. Tôi còn nhớ như in buổi học lịch sử khi đến bài “Quang Trung đại phá quân Thanh” đại tướng Tôn Sĩ Nghị tháo quân bỏ chạy, đạp lên xác lính mà vượt Sông Hồng. Cả lớp đã đồng loạt quay xuống hét “thằng khốn nạn Tôn Sĩ Nghị kia” Trong ký ức ấu thơ còn bao nhiêu trận bị bêu mặt trên lớp với Nghị Quế, Nghị Hách.
Nhưng có lẽ “Nghị kều” là cái tên đi theo tôi suốt thời cắp sách tới trường, nghe Mẹ kể “tao sinh mày được 3 tháng thì phải đi viện đến năm 3 tuổi mới về vì bị suy dinh dưỡng quá. Bác sĩ đã trả về, Ba mày ức quá chửi ầm lên. Khổ ông không rành tiếng Việt nên nói cứ bị mọi người cười”
Tức giận về cứ đêm xuống Ba lại lấy đèn xách giỏ đi bắt rắn, bắt cóc về cho tôi ăn. Những tưởng thằng bé quặt quẹo bệnh viện trả về không sống được, nhưng với tấm long của Ba và Mẹ nó vẫn lớn vẫn sống, tuy có gầy yếu nhưng nó vẫn tồn tại như một minh chứng cho tấm lòng của cha mẹ với con cái.
Tôi lớn lên trong sự bao bọc của Ba và sự dạy dỗ của Mẹ, do Ba không biết nhiều tiếng Việt vì thế Mẹ thay Ba chỉ bảo các con học làm người. Nghèo cho sạch, rách cho thơm. Tuy không có tiền nhưng 3 chị em tôi tự hào ở chữ “Người” mình được học, nhà nghèo nên đời sống của cả nhà phụ thuộc vào mấy sào rau muống.
Năm 1997 Ba mất do vết thương cũ tái phát, để lại cho Mẹ gánh nặng cơm áo và cả tinh thần của gia đình. Cuộc sống thật cơ cực và tủi nhục…